Nước ta có nhiều thế mạnh để phát triển đánh bắt và nuôi trồng thủy sản. Các hoạt động này tạo ra khối lượng hàng hóa lớn, đáp ứng nhu cầu trong và ngoài nước. Ngành lâm nghiệp được chú trọng phát triển ở nhiều địa phương, không chỉ nhằm bảo vệ môi trường sinh thái mà còn tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội.
1. NGÀNH THỦY SẢN
a) Những điều kiện thuận lợi và khó khăn để phát triển ngành thuỷ sản
* Thuận lợi:
– Điều kiện tự nhiên:
+ Đánh bắt: dựa chủ yếu vào nguồn lợi thủy sản.
- Đường bờ biển dài 3260 km, vùng đặc quyền kinh tế rộng.
- Nguồn lợi hải sản khá phong phú, trữ lượng lớn.
- Nhiều bãi tôm, bãi cá với các nhiều ngư trường lớn (4 ngư trường).
+ Nuôi trồng: dựa chủ yếu vào diện tích mặt nước.
- Thủy sản nước lợ: bãi triều, đầm phá, cánh rừng ngập mặn.
- Thủy sản nước mặn: vùng biển ven các đảo, vũng, vịnh.
- Thủy sản nước ngọt: sông ngòi, kênh rạch, ao hồ, ô trũng ở các đồng bằng.
- Ven bờ có nhiều đảo và vụng, vịnh tạo điều kiện cho các bãi cá đẻ.
– Điều kiện kinh tế – xã hội:
+ Lao động đông, có kinh nghiệm và truyền thống đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản.
+ Các phương tiện tàu thuyền, ngư cụ được trang bị ngày càng tốt hơn.
+ Các dịch vụ thủy sản và chế biến thuỷ sản được mở rộng.
+ Nhu cầu về các mặt hàng thuỷ sản ở trong nước và thế giới tăng.
+ Sự đổi mới chính sách của Nhà nước về phát triển ngành thuỷ sản.
* Khó khăn:
– Bão, gió mùa Đông Bắc làm tăng số ngày biển động, hạn chế số ngày ra khơi, giảm năng suất, gây ra thiệt hại về người và tài sản.
– Môi trường biển bị suy thoái, ô nhiễm.
– Nguồn lợi thủy sản suy giảm do đánh bắt chưa hợp lí, nhất là ở vùng biển ven bờ.
– Phương tiện đánh bắt chậm đổi mới làm cho năng suất lao động thấp, chưa phát triển được đánh bắt xa bờ.
– Hệ thống cảng cá chưa đáp ứng được yêu cầu.
– Công nghệ chế biến chưa phát triển mạnh, ảnh hưởng giá trị sản phẩm.
Đánh bắt hải sản ở gần bờ.
b) Sự phát triển và phân bố ngành thủy sản
– Tình hình chung:
+ Ngành thủy sản có bước phát triển đột phá.
+ Tạo ra nhiều hàng hóa, phục vụ thị trường trong và ngoài nước.
– Khai thác thủy sản:
+ Sản lượng khai thác liên tục tăng, tốc độ tăng chậm; tỉ trọng thấp và có xu hướng giảm.
+ Đẩy mạnh khai thác thủy sản xa bờ, khai thác hợp lí đi đôi với bảo vệ thủy sản gần bờ.
+ Khai thác chủ yếu là cá biển.
+ Tất cả các tỉnh giáp biển đều đẩy mạnh đánh bắt hải sản, nhưng nghề cá có vai trò lớn hơn ở các tỉnh thuộc Duyên hải Nam Trung Bộ và Nam Bộ.
+ Các tỉnh dẫn đầu về sản lượng đánh bắt: Kiên Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Thuận và Cà Mau.
– Nuôi trồng thủy sản:
+ Nghề nuôi tôm phát triển mạnh (do nhu cầu thị trường).
+ Kĩ thuật nuôi tôm có nhiều cải tiến, đi từ quảng canh sang quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh công nghiệp.
+ Vùng nuôi tôm lớn nhất: Đồng bằng sông Cửu Long.
+ Nuôi cá nước ngọt phát triển, đặc biệt ở Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng. Tỉnh An Giang nổi tiếng về nuôi cá tra, cá ba sa.
2. NGÀNH LÂM NGHIỆP
a) Ngành lâm nghiệp ở nước ta có vai trò quan trọng về mặt kinh tế và sinh thái
– Lâm nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng trong cơ cấu kinh tế nước ta.
– Về kinh tế: cung cấp củi gỗ, lâm sản, nguyên liệu giấy phục vụ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, tạo hàng xuất khẩu, có khả năng phát triển du lịch sinh thái,…
– Về xã hội: gắn với cuộc sống của đồng bào dân tộc ít người, tạo việc làm, nâng cao thu nhập.
– Về môi trường: giữ cân bằng sinh thái, giảm tác hại của thiên tai, điều hòa khí hậu, giữ gìn nguồn gen và đa dạng sinh học.
– Các loại rừng: rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng.
+ Rừng sản xuất: phục vụ cho hoạt động kinh tế; cần đẩy mạnh trồng mới.
+ Rừng phòng hộ: phòng chống thiên tai ở thượng nguồn sông và vùng ven biển; cần bảo vệ và trồng mới.
+ Rừng đặc dụng: bảo vệ đa dạng sinh học; cần phải bảo vệ và lập vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên.
b) Tài nguyên rừng của nước ta vốn giàu có, nhưng đã bị suy thoái nhiều (Giảm tải)
Hoạt động bảo vệ rừng của cán bộ kiểm lâm.
c) Sự phát triển và phân bố lâm nghiệp
– Vấn đề đặt ra: bảo vệ và phát triển rừng, khai thác hợp lí rừng.
– Các hoạt động lâm nghiệp bao gồm:
+ Lâm sinh (trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ rừng).
+ Khai thác, chế biến gỗ và lâm sản.
– Trồng rừng:
+ Cả nước có khoảng 2,5 triệu ha rừng trồng tập trung, diện tích rừng có xu hướng tăng khá nhanh.
+ Hoạt động trồng rừng mới diễn ra cả ở miền núi và đồng bằng.
+ Hoạt động trồng rừng thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia.
+ Mỗi năm vẫn có hàng nghìn ha rừng bị chặt phá và bị cháy.
– Khai thác, chế biến gỗ và lâm sản:
+ Hàng năm khai thác khoảng 2,5 triệu m3 gỗ, 120 triệu cây tre luồng và 100 triệu cây nứa.
+ Các sản phẩm gỗ: gỗ tròn, gỗ xẻ, đồ gỗ…
+ Cả nước có hơn 400 nhà máy cưa xẻ gỗ và vài nghìn xưởng xẻ gỗ thủ công.
+ Công nghiệp bột giấy và giấy được phát triển.
+ Rừng còn được khai thác để cung cấp nguồn gỗ củi và than củi.