I. KHÁI NIỆM
- Nguồn lực phát triển kinh tế của một lãnh thổ là sức mạnh tổng hợp được tích luỹ từ vị trí địa lí, lịch sử văn hoá, tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, các tài sản hiện có và tiềm năng của những tài sản hình thành trong tương lai, bao gồm cả nguồn lực từ bên ngoài có thể huy động nhằm phục vụ phát triển kinh tế của lãnh thổ đó.
II. PHÂN LOẠI

- Theo nguồn gốc: nguồn lực vị trí địa lí, nguồn lực tự nhiên, nguồn lực kinh tế – xã hội.
- Theo phạm vi lãnh thổ:
- Nguồn lực bên trong lãnh thổ (vị trí địa lí; tự nhiên: đất, nước, khí hậu, sinh vật, khoáng sản, biển,…; kinh tế – xã hội: vốn, chính sách phát triển, lịch sử – văn hoá, lao động, thị trường,…);
- Nguồn lực từ bên ngoài lãnh thổ (vốn đầu tư nước ngoài, nguồn nhân lực nước ngoài, thị trường nước ngoài, khoa học – công nghệ từ nước ngoài,…).
III. VAI TRÒ CỦA NGUỒN LỰC
- Mỗi nguồn lực có vai trò nhất định; ở mỗi ngành, mỗi giai đoạn, mức độ tác động của các nguồn lực khác nhau.
- Nguồn lực bên trong có vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế của lãnh thổ:
- Vị trí địa lí tạo thuận lợi hay khó khăn trong trao đổi, hợp tác (đặc biệt trong xu thế hội nhập);
- Nguồn lực tự nhiên là yếu tố đầu vào sản xuất hàng hoá, dịch vụ, sự giàu có và đa dạng tài nguyên tạo lợi thế phát triển;
- Nguồn lực kinh tế – xã hội đóng vai trò trực tiếp, quyết định (trong đó nguồn lao động là quan trọng nhất, lao động đông đảo và chất lượng cao là nền tảng chuyển dịch sang kinh tế tri thức; vốn, chính sách, khoa học – công nghệ tạo môi trường sản xuất hiện đại, tăng năng suất).
- Nguồn lực từ bên ngoài: tận dụng, thu hút vốn đầu tư, nhân lực, tri thức, khoa học – công nghệ, thị trường bên ngoài tạo thêm sức mạnh phát triển, đặc biệt trong thời kì kinh tế tri thức và hợp tác hoá, quốc tế hoá.
- Kết hợp hợp lí giữa nguồn lực bên trong và bên ngoài giúp kinh tế lãnh thổ phát triển nhanh và bền vững. (VD: Nhật Bản — quốc gia nghèo tài nguyên nhưng nhờ nguồn lực chính sách, con người đã trở thành cường quốc kinh tế.)

