I. CƠ CẤU KINH TẾ
- Khái niệm: cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành.
- Phân loại:
| Loại cơ cấu | Thành phần | Ý nghĩa |
| Theo ngành | Nông – lâm – thuỷ sản; Công nghiệp – xây dựng; Dịch vụ | Bộ phận cơ bản nhất; biểu thị tỉ trọng, vị trí và mối quan hệ giữa các ngành; phản ánh trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội. |
| Theo thành phần kinh tế | Khu vực kinh tế trong nước (Nhà nước, ngoài Nhà nước); Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài | Cho biết sự tồn tại của các thành phần tham gia hoạt động kinh tế; phản ánh khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh của từng thành phần (vị thế thay đổi theo từng giai đoạn). |
| Theo lãnh thổ | Vùng kinh tế; Tiểu vùng kinh tế;… | Cho biết mối quan hệ giữa các bộ phận lãnh thổ; phản ánh trình độ phát triển và thế mạnh đặc thù của mỗi lãnh thổ. |
II. TỔNG SẢN PHẨM TRONG NƯỚC VÀ TỔNG THU NHẬP QUỐC GIA
- Tổng sản phẩm trong nước / tổng sản phẩm quốc nội (GDP): tổng giá trị (theo giá thị trường) của tất cả hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (thường 1 năm), do cả thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài hoạt động tại quốc gia đó tạo ra. (@Địa lí thầy Tùng). GDP dùng để phân tích quy mô, cơ cấu, tốc độ tăng trưởng và sức mạnh kinh tế của một quốc gia.
- Tổng thu nhập quốc gia (GNI): tổng giá trị (theo giá thị trường) của tất cả sản phẩm, dịch vụ cuối cùng do tất cả công dân của một quốc gia tạo ra trong một năm (kể cả ở ngoài lãnh thổ quốc gia đó). GNI dùng để đánh giá tăng trưởng kinh tế một cách đầy đủ, đúng thực lực.
- GDP và GNI bình quân đầu người = GDP (hoặc GNI) chia cho tổng số dân tại một thời điểm; dùng để đánh giá mức sống dân cư của một quốc gia.
TÓM TẮT CHƯƠNG 9
- Nguồn lực phát triển kinh tế là sức mạnh tổng hợp từ vị trí địa lí, tài nguyên, lao động, vốn, chính sách,… gồm nguồn lực bên trong (quyết định) và bên ngoài lãnh thổ (bổ sung sức mạnh).
- Cơ cấu kinh tế gồm 3 loại: theo ngành (quan trọng nhất), theo thành phần kinh tế, theo lãnh thổ.
- GDP đo giá trị sản xuất trong lãnh thổ; GNI đo giá trị do công dân quốc gia tạo ra (kể cả ở nước ngoài); GDP/GNI bình quân đầu người phản ánh mức sống dân cư.

