I. HỆ QUẢ ĐỊA LÍ CỦA CHUYỂN ĐỘNG TỰ QUAY QUANH TRỤC
1. Sự luân phiên ngày đêm
• Trái Đất có dạng hình khối cầu nên luôn được Mặt Trời chiếu sáng một nửa, còn một nửa chưa được chiếu sáng, sinh ra ngày và đêm.
• Trái Đất tự quay quanh trục, dẫn đến mọi nơi trên bề mặt Trái Đất đều lần lượt được Mặt Trời chiếu sáng rồi lại lần lượt chìm trong bóng tối → hiện tượng ngày đêm luân phiên.
2. Giờ trên Trái Đất
• Trái Đất có dạng hình khối cầu và tự quay quanh trục từ Tây sang Đông, nên cùng một thời điểm, các địa điểm thuộc các kinh tuyến khác nhau nhìn thấy Mặt Trời ở độ cao khác nhau → có giờ địa phương (giờ Mặt Trời) khác nhau.
• Vì giờ địa phương không thuận tiện, người ta chia bề mặt Trái Đất thành 24 múi giờ, mỗi múi rộng 15° kinh tuyến; các địa phương trong cùng một múi giờ thống nhất một giờ, gọi là giờ múi.
• Giờ ở múi số 0 (kinh tuyến gốc chạy qua giữa múi) được lấy làm giờ quốc tế (giờ GMT). Trong thực tế, ranh giới các múi giờ thường được điều chỉnh theo biên giới quốc gia.
• Kinh tuyến 180° (đi qua giữa múi giờ số 12, Thái Bình Dương) được quy định là đường chuyển ngày quốc tế: đi từ Tây sang Đông qua kinh tuyến này thì lùi lại 1 ngày lịch; đi từ Đông sang Tây thì tăng thêm 1 ngày lịch.
II. HỆ QUẢ ĐỊA LÍ DO CHUYỂN ĐỘNG QUANH MẶT TRỜI
1. Hiện tượng ngày đêm dài ngắn khác nhau
• Trong năm, các địa điểm ở bán cầu Bắc và bán cầu Nam đều có hiện tượng ngày, đêm dài ngắn khác nhau theo mùa và theo vĩ độ, trừ hai ngày 21/3 và 23/9 có thời gian ngày, đêm bằng nhau.
• Ở Xích đạo, quanh năm có độ dài ngày và đêm bằng nhau; càng xa Xích đạo, sự chênh lệch thời gian giữa ngày và đêm càng lớn. Riêng ở hai cực có sáu tháng ngày, sáu tháng đêm.
2. Các mùa trong năm
• Mùa là khoảng thời gian trong năm, có những đặc điểm riêng về thời tiết và khí hậu.
• Nguyên nhân sinh ra các mùa: Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời với hướng trục không thay đổi và nghiêng với mặt phẳng quỹ đạo một góc khoảng 66°33′, làm cho góc chiếu của tia sáng Mặt Trời và thời gian tiếp nhận ánh sáng Mặt Trời thay đổi trong năm.
• Hiện tượng mùa diễn ra ngược nhau giữa bán cầu Bắc và bán cầu Nam. Bốn mùa biểu hiện rõ nhất ở vùng ôn đới; vùng nhiệt đới có hai mùa nhưng không rõ rệt; vùng hàn đới chỉ có một mùa lạnh kéo dài.
• Ở bán cầu Bắc, bốn ngày 21/3, 22/6, 23/9 và 22/12 được lấy làm bốn ngày khởi đầu của bốn mùa. Ở Việt Nam, do tính theo âm – dương lịch, thời gian bắt đầu các mùa sớm hơn khoảng 45 ngày.
3, Tổng kết
| Hệ quả | Nội dung chính |
| Sự luân phiên ngày đêm | Trái Đất hình khối cầu, tự quay quanh trục → mọi nơitrên bề mặt lần lượt được chiếu sáng rồi lần lượt chìmtrong bóng tối. |
| Giờ trên Trái Đất | 24 múi giờ (mỗi múi 15° kinh tuyến); múi giờ số 0 = giờ GMT; kinh tuyến 180° = đường chuyển ngày quốc tế. Việt Nam: múi giờ số 7 (UTC+7). |
| Ngày đêm dài ngắn theo mùa, vĩ độ | Do trục Trái Đất nghiêng 66°33′ với mặt phẳng quỹ đạo; Xích đạo quanh năm ngày = đêm; càng xa Xích đạo chênh lệch càng lớn; hai cực có 6 tháng ngày, 6 tháng đêm. |
| Các mùa trong năm | Do hướng trục không đổi khi Trái Đất quay quanh Mặt Trời; 4 mùa rõ nhất ở ôn đới, diễn ra ngược nhau giữa hai bán cầu; nhiệt đới 2 mùa không rõ rệt; hàn đới 1 mùa lạnh kéo dài. |
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
• Trái Đất hình thành cách đây khoảng 4,5 tỉ năm, gắn liền với sự hình thành hệ Mặt Trời; cấu tạo gồm 3 lớp đồng tâm: vỏ Trái Đất – manti – nhân Trái Đất.
• Vỏ Trái Đất dày 5–70 km, gồm 2 kiểu (vỏ lục địa, vỏ đại dương) và 3 tầng (trầm tích, granit, badan); vật liệu cấu tạo là khoáng vật và đá, gồm 3 nhóm: đá macma, đá trầm tích, đá biến chất.
• Chuyển động tự quay quanh trục (từ Tây sang Đông, chu kì 24 giờ) → hệ quả: sự luân phiên ngày đêm và giờ trên Trái Đất (24 múi giờ).
• Chuyển động quanh Mặt Trời (trục nghiêng 66°33′, hướng không đổi) → hệ quả: ngày đêm dài ngắn theo mùa, vĩ độ và các mùa trong năm.

