Skip to content
ĐỊA LÍ THẦY TÙNGĐỊA LÍ THẦY TÙNG
    • ĐỀ THI
      • HỌC KÌ I
      • HỌC KÌ II
      • ĐỀ THI HSG
      • ĐỀ THI THEO CHUYÊN ĐỀ
      • THẦY TÙNG BIÊN SOẠN
      • ĐỀ THI TỐT NGHIỆP THPT
        • BỘ GD&ĐT
        • ĐỀ THI THỬ
    • LÍ THUYẾT
      • LỚP 12
    • KHÓA HỌC
    • SÁCH
    • TÀI LIỆU
      • ĐỊA LÍ QUANH TA
      • TÀI LIỆU NÂNG CAO
      • VIDEO
    • HỌC SINH TIÊU BIỂU
    • TIN TỨC
Home » Phát triển thủy sản theo hướng bền vững ở Việt Nam giai đoạn 2016 – 2024

Phát triển thủy sản theo hướng bền vững ở Việt Nam giai đoạn 2016 – 2024

9 Tháng 3, 2026 - admin - 215 lượt xem
Phát triển thủy sản theo hướng bền vững ở Việt Nam giai đoạn 2016 - 2024

Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển thủy sản. Trong những năm gần đây ngành thủy sản đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế, xã hội và nâng cao vị thế của đất nước. Minh chứng cho điều đó là ngành đã luôn tăng mạnh cả về diện tích nuôi trồng cũng như sản lượng, giá trị xuất khẩu lớn, đồng thời ngành còn giải quyết việc làm cho một số lượng lớn lao động nghèo ven biển.

Biển Việt Nam có các loài thủy sản phong phú. Tổng trữ lượng nguồn lợi hải sản ở biển Việt Nam[1] giai đoạn 2016-2020 đạt khoảng 3,95 triệu tấn, suy giảm đáng kể so với giai đoạn 2000-2005 (giảm 22,1%) và giai đoạn 2011-2015 (giảm 9,4%). Khả năng khai thác cho phép trung bình ước tính khoảng 2,45 triệu tấn/năm (dao động trong khoảng 2,27 đến 2,63 triệu tấn), trong đó, nhóm nguồn lợi tầng đáy đã chạm ngưỡng giới hạn; nhóm cá nổi (cá nổi lớn và cá nổi nhỏ) vẫn nằm trong giới hạn khai thác cho phép, một số nhóm nguồn lợi ở các vùng biển vẫn còn tiềm năng khai thác.

Nguồn: Cục Thống kê

Sự phát triển của ngành thủy sản đã kéo theo sự gia tăng mạnh mẽ sản lượng thủy sản. Bình quân mỗi năm giai đoạn 2016-2024, nước ta có 7391 nghìn tấn thủy sản, trong đó khai thác 3304 nghìn tấn và nuôi trồng 4087 nghìn tấn; tốc độ tăng bình quân là 4,0%, trong đó khai thác tăng 3,1%/năm và nuôi trồng tăng 5,4%/năm. Sản lượng thủy sản tăng không những đáp ứng đầy đủ nhu cầu trong nước mà mỗi năm còn xuất khẩu thủy sản thu về bình quân 7,8 triệu USD/năm.

Trong bối cảnh nguồn lợi thủy sản tự nhiên ngày càng cạn kiệt thì việc chuyển hướng sang phát triển nuôi biển theo hướng công nghiệp hiện đại, bền vững đang là hướng đi đúng đắn của ngành thủy sản. Năm 2024, sản lượng thủy sản ước đạt 9.547 nghìn tấn, tăng 2,5% so với năm trước và tăng 37,9% so với năm 2016, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 5.721,6 nghìn tấn, tăng 4,0% và tăng 56,3%. Nuôi trồng thủy sản được điều chỉnh cơ cấu nuôi hợp lý, phát triển các vùng nuôi tôm, cá tập trung ứng dụng công nghệ cao, công nghệ thân thiện với môi trường. Sản phẩm nuôi trồng thủy sản chủ lực là cá tra và tôm đã mang lại kết quả khá, sản lượng cá tra đạt 1.857,3 nghìn tấn, tăng 4,8% so với năm trước; tôm thẻ chân trắng đạt 897,6 nghìn tấn, tăng 6,3%; tôm sú đạt 266,5 nghìn tấn, tăng 3,6%.

Thời gian qua, Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách cho ngư dân bám biển; chú trọng công tác bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản hướng đến khai thác thủy sản biển hiệu quả, bền vững. Luật Thủy sản năm 2017 và Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 là hai trong số các chính sách quan trọng về phát triển ngành Thủy sản giai đoạn 2016-2020.

Khai thác thủy sản

Việt Nam có bốn khu vực có tổng sản lượng thủy sản khai thác lớn nhất là: Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Hồng. Tổng số lượng tàu khai thác thủy sản biển (từ 90 CV trở lên) toàn quốc đạt 30.474 chiếc năm 2016 và tăng lên 34.825 chiếc năm 2023, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2016-2023 là 1,5%/năm, có tổng công suất các tàu có công suất trên 90 CV tăng từ 10.686 nghìn CV lên 14.623,2 nghìn CV, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2016-2020 là 3,5%/năm. Số lượng phương tiện đánh bắt xa bờ gia tăng trong giai đoạn 2016-2023 góp phần tạo chuyển biến mới, tích cực trong ngành khai thác biển theo hướng tăng sản lượng và giá trị khai thác biển, vừa giảm áp lực khai thác ven bờ, khắc phục tình trạng đánh bắt huỷ diệt, vừa tái tạo nguồn lợi hải sản, đưa nghề biển phát triển bền vững.

Trong cơ cấu nghề đã có sự gia tăng những nghề khai thác có hiệu quả như các nghề: Lưới vây, nghề câu, lưới rê khơi, giảm những nghề khai thác ảnh hưởng đến nguồn lợi như lưới kéo, nghề vó mành ven bờ, nghề te, xiệp… Số lượng tàu cá khai thác công suất lớn tăng nhanh là do các chính sách khuyến khích, hỗ trợ của Nhà nước; các địa phương cũng đã ban hành những cơ chế, chính sách khuyến khích vươn khơi, hỗ trợ ngư dân đóng mới, cải hoán tàu cá được phát triển theo quy định. Tại thời điểm 01/12/2023, tổng số tàu cá là 83.740 chiếc đang hoạt động, trong đó: Tàu có chiều dài từ 6 – <12 mét là 43.266 chiếc, chiếm 51,67%; tàu có chiều dài từ 12 – <15 mét là 14.524 chiếc, chiếm 34,69%; tàu cá có chiều dài từ 15 – <24 mét là 24.017 chiếc, chiếm 28,68 %; Tàu có có chiều dài từ 24 mét trở lên là 1.933 chiếc, chiếm 2,31%.

Nguồn: Cục Thống kê

Sản lượng khai thác thủy sản của Việt Nam có sự gia tăng đáng kể tăng dần qua các năm, từ 3.264,1 nghìn tấn năm 2016 lên 3.825,4 nghìn tấn năm 2024, tăng 17,2%, bình quân mỗi năm khai thác được 3730 nghìn tấn. Trong đó, chủ yếu là thủy sản khai thác biển chiếm bình quân 94% tổng sản lượng thủy sản khai thác, trong đó sản lượng của nhóm là các loại thủy sản nổi nhỏ (cá nục sồ, cá sòng Nhật, cá ngân, cá bạc má, cá ba thú) và động vật chân đầu (mực nang, mực ống) có chiều hướng tăng lên, trong khi đó sản lượng nhóm cá đáy giảm đi. Mặc dù, vừa đảm bảo khai thác bền vững và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, những năm gần đây ngành khai thác thủy sản biển đã tuân thủ các quy định về chống khai thác thủy sản bất hợp pháp IUU nhưng sản lượng thủy sản khai thác biển cũng tăng lên đáng kể từ 3.070.5 nghìn tấn năm 2016 lên 3.622,7 năm 2024. Có thể thấy rằng, mặc dù tình hình dịch Covid-19 diễn ra phức tạp trong năm 2020-2022, nhưng sản lượng thủy sản khai thác của nước ta vẫn tăng hoặc chỉ giảm nhẹ, đảm bảo nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Sản lượng nhóm cá khai thác biển chiếm 77,7% trong tổng sản lượng khai thác thủy sản biển, trong đó chủ yếu là cá nổi nhỏ và các loại cá ngừ và họ cá ngừ. Tuy nhiên, nguồn lợi thủy sản là tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo, nhưng hữu hạn. Mỗi vùng biển có một trữ lượng hải sản nhất định và chỉ cho phép khai thác một sản lượng nhất định. Nếu khai thác vượt qua khả năng khai thác cho phép thì sẽ gây ra suy giảm nguồn lợi. Khả năng cho phép khai thác thường khoảng 43 – 50% tổng trữ lượng thủy sản (tùy vùng biển và loài thủy sản).

        Các vùng khai thác quan trọng nhất là Đồng bằng sông Cửu Long, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, chiếm khoảng 80% tổng sản lượng. Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận là các tỉnh khai thác thủy sản trọng điểm của miền Trung, trong khi đó Kiên Giang là tỉnh đánh bắt chính của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Công tác tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản đã được triển khai đồng bộ từ trung ương đến địa phương, trong đó tập trung thả các loài cá bản địa quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng như cá Chiên, Lăng Nha, cá Bỗng, cá Song… Trong 5 năm qua, trung bình mỗi năm cả nước thả khoảng 42 triệu cá giống xuống các thủy vực. Hoạt động tuyên truyền cũng đã được triển khai đồng bộ tại các địa phương nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về công tác bảo vệ môi trường, nguồn lợi thủy sản. Hoạt động bảo vệ rùa biển đã được các cơ quan nhà nước, các tổ chức phi chính phủ và người dân quan tâm thực hiện thông qua kế hoạch hành động quốc gia bảo tồn rùa biển từ những năm 2004 đến nay. Công tác bảo tồn, lưu giữ nguồn gen: Đã xây dựng và thực hiện chương trình bảo tồn nguồn gen và giống các loài thủy sản quý hiếm, có giá trị kinh tế và có ý nghĩa khoa học. Những năm gần đây, việc bảo tồn, lưu giữ các loài thủy sản đang ngày càng được quan tâm.

          Nuôi trồng thủy sản

Việt Nam có diện tích mặt nước lớn, kể cả nước ngọt, lợ và mặn, đây là một lợi thế cho việc phát triển nuôi trồng thủy sản và cũng là một trong những lý do dẫn tới sự thành công của ngành trong thời gian qua. Diện tích nuôi trồng thủy sản tăng dần qua các năm từ 1.071,4 nghìn ha năm 2016 lên 1.118,0 nghìn ha năm 2018, năm 2019 diện tích đạt 1.138,0 nghìn ha (tăng 1,8%). Tuy nhiên, do ảnh hưởng từ dịch Covid-19 diện tích nuôi trồng giảm qua các năm 2020- 2023. Năm 2023 diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 1.061,3 nghìn ha, giảm 2,7% so với năm 2019. Nuôi trồng thuỷ sản phát triển mạnh mẽ khắp các vùng trong cả nước, kể cả các tỉnh Tây Nguyên, miền núi phía Bắc… trên cả 3 loại hình nước ngọt, nước lợ và nước mặn và đang vươn ra biển. Điều đó chứng tỏ trong suốt thời gian qua nước ta đã có những chính sách, biện pháp quy hoạch đất, từng bước chuyển đổi vùng trũng, vùng trồng lúa, vùng trồng cói, các cây công nghiệp năng suất thấp, làm muối kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản.

Sản lượng nuôi trồng thủy sản đã tăng trưởng đáng kể nhờ áp dụng các mô hình nuôi trồng thủy sản cho năng suất và chất lượng cao, tổng sản lượng thủy sản giai đoạn 2016-2024 đạt 36,8 triệu tấn, trong đó năm 2024 đạt mức cao nhất với 5,7 triệu tấn, tăng 56,3% so với năm 2016, bình quân mỗi năm tăng 5,1%. Năm 2024, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 5.721,6 nghìn tấn, tăng 4,0% so với năm trước, trong đó: Cá đạt 3.826,6 nghìn tấn, tăng 3,9%; tôm đạt 1.246,5 nghìn tấn, tăng 5,6%; thủy sản khác đạt 648,5 nghìn tấn, tăng 1,4%.

Nguồn: Cục Thống kê

Chúng ta có thể thấy cá và tôm là hai đối tượng nuôi được chú trọng phát triển nhất ở Việt Nam vì thế sản lượng nuôi hàng năm của cá và tôm là tương đối cao, nhất là cá luôn được ưu chuộng tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu hơn tôm. Hiện nay các loại cá được nuôi phổ biến đó là cá tra, cá basa. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp nuôi tôm lại chuyển đổi phần lớn diện tích nuôi tôm sú sang nuôi tôm thẻ chân trắng. Bởi trên thương trường hiện nay, con tôm sú đang bị tôm thẻ chân trắng cạnh tranh quyết liệt, do tôm thẻ chân trắng dễ nuôi và có năng suất cao gấp hai lần so với tôm sú, nên giá thành sản xuất hạ, được người tiêu dùng ưa chuộng. Cơ cấu sản xuất đang được chuyển mạnh từ nuôi cá sang nuôi tôm. Kỹ thuật và công nghệ nuôi tôm nước lợ chuyển dần theo hướng ứng dụng công nghệ mới, nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp quy mô lớn. Ðáng chú ý là những năm gần đây, hình thức nuôi tôm sú công nghiệp theo chu trình khép kín, ít thay nước đã được áp dụng ở nhiều tỉnh ven biển miền trung, cho hiệu quả kinh tế cao.

Hiện nay, các mô hình nuôi trồng thủy sản ứng dụng công nghệ cao đang được áp dụng khá rộng rãi nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, nâng cao thu nhập và góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường… Các mô hình phổ biến là Công nghệ Biofloc là một trong những công nghệ cao được ứng dụng phổ biến trong nuôi trồng thủy sản hiện nay để tạo môi trường nuôi giàu dinh dưỡng: Kích thích phát triển các vi sinh vật có lợi trong nước để tạo ra các hạt biofloc giàu protein, lipid và các hợp chất hữu cơ thiết yếu, là nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm, cá; công nghệ nuôi thâm canh áp dụng mật nuôi độ nuôi cao, sử dụng hệ thống sục khí, lọc nước tự động để nâng cao năng suất; Công nghệ tuần hoàn, khép kín sử dụng hệ thống lọc, tuần hoàn nước, bổ sung oxy và dinh dưỡng để nuôi trong bể/ao khép kín. Giúp tiết kiệm nước, đảm bảo vệ sinh và năng suất ca; Công nghệ cảm biến, IoT giám sát các thông số môi trường như oxy, độ mặn, nhiệt độ từ xa qua thiết bị cảm biến và ứng dụng, công nghệ này đang được ứng dụng rộng rãi trong nuôi trồng thủy sản, mang lại nhiều lợi ích; Nuôi trồng thủy sản theo hướng VietGAP, GlobalGAP là áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn, vệ sinh, truy xuất nguồn gốc để nâng cao chất lượng sản phẩm. kháng bệnh tốt. Các mô hình này có ưu điểm đó là ứng dụng các công nghệ nuôi tiên tiến, tự động hóa và điều khiển quá trình nuôi bằng hệ thống máy móc, trang thiết bị và công nghệ thông tin; kiểm soát các yếu tố môi trường nuôi (nước, không khí, ánh sáng…) ở mức tối ưu cho sự sinh trưởng và phát triển của thủy sản; áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến để phòng trừ dịch bệnh, đảm bảo an toàn sinh học; đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.

Ngành thủy sản ở Việt Nam có sự tăng trưởng thời gian qua tuy đã có chú ý phát triển theo chiều sâu, nhưng chưa đồng đều ở các địa phương, vùng lãnh thổ. Sự phát triển chủ yếu theo chiều rộng qua việc tăng diện tích nuôi trồng chứ chưa thực sự được chú trọng thúc đẩy phát triển theo chiều sâu nhằm giữ vững và ổn định tốc độ tăng trưởng, tăng mức độ đóng góp của ngành vào GDP. Còn tồn tại thực trạng đó là do những nguyên nhân sau: việc xây dựng quy hoạch còn chậm chưa theo kịp với nhu cầu phát triển, khả năng, ứng dụng sáng tạo tiến bộ khoa học vào điều kiện cụ thể của từng vùng còn yếu kém, tuy có nhiều tiến bộ trong phương thức sản xuất và kỹ thuật nuôi, nhưng vẫn chưa theo kịp trình độ của các nước có ưu thế về nuôi thủy sản ở khu vực và thế giới, đầu tư còn dàn trải chưa đồng bộ, công tác quản lý còn nhiều bất cập…Khai thác phải đi đôi với công tác phục hồi và bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Định hướng phát triển bền vững trong tương lai là giảm dần sản lượng thủy sản khai thác, phát triển thủy sản nuôi trồng theo hướng áp dụng các mô hình nuôi trồng chất lượng cao đạt an toàn thực phẩm và môi trường.

Để phát triển thủy sản bền vững trong giai đoạn tới cần tái cơ cấu ngành thủy sản gắn với điều kiện phát triển thủy sản của từng vùng, từng địa phương, thích ứng với biến đổi khí hậu và tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị từ khâu sản xuất, cung cấp nguyên liệu đầu vào đến nuôi trồng, khai thác, chế biến, bảo quản và tiêu thụ nhằm giảm chi phí, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm thủy sản Việt Nam, gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy sản, bảo vệ môi trường. Chuyển mạnh sang nuôi trồng biển nhằm thúc đẩy tăng trưởng thủy sản, chuyển dịch cơ cấu lao động từ đánh bắt sang nuôi trồng, giải quyết nhiều việc làm, nâng cao đời sống cho người dân. Chuyển từ nuôi trồng, khai thác theo phương thức truyền thống sang công nghiệp hóa ngành thủy sản, ứng dụng công nghệ cao. Tổ chức lại hoạt động khai thác, đẩy mạnh nuôi trồng, hiện đại hoá quản lý, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ. Phát triển các mô hình nuôi kết hợp, xen ghép nhiều đối tượng, nuôi luân canh, nuôi các đối tượng mới nhằm hạn chế dịch bệnh, giảm chi phí đầu tư, tăng hiệu quả sản xuất, góp phần cải tạo hệ sinh thái vùng nuôi. Tăng cường kiểm soát dịch bệnh và cải thiện chất lượng giống áp dụng các giải pháp kỹ thuật mới trong sản xuất, ương dưỡng giống, hạn chế sử dụng thuốc, kháng sinh, các chất vi sinh dùng trong nuôi trồng thủy sản để xây dựng và thực hành rộng rãi tiêu chuẩn nuôi sạch bệnh.

Nguồn: Cơ quan Thống kê Quốc gia

Bài viết cùng chủ đề

  • Bức tranh Xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam năm…
  • Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiên tiến trong khai…
  • Phát triển ngành muối Việt Nam
  • Nước ASEAN gây kinh ngạc về sức mạnh thủy điện: Sản…
  • Việt Nam hợp tác khai thác dầu khí bền vững ở khu…
  • Việt Nam xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt kỷ lục 62,4…

Để lại một bình luận Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Danh mục
  • BỘ GD&ĐT
  • ĐỀ THI
  • ĐỀ THI HSG
  • ĐỀ THI THEO CHUYÊN ĐỀ
  • ĐỀ THI THỬ
  • ĐỀ THI TỐT NGHIỆP THPT
  • ĐỊA LÍ DÂN CƯ VIỆT NAM
  • ĐỊA LÍ NGÀNH KINH TẾ
  • ĐỊA LÍ QUANH TA
  • ĐỊA LÍ VÙNG KINH TẾ
  • HỌC KÌ I
  • HỌC SINH TIÊU BIỂU
  • LÍ THUYẾT
  • LỚP 12
  • TÀI LIỆU
  • TÀI LIỆU NÂNG CAO
  • THẦY TÙNG BIÊN SOẠN
  • TIN TỨC
  • VIDEO
Bài viết nổi bật
  • [CÀ MAU] ĐỀ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2025-2026 MÔN ĐỊA LÍ
  • [ĐÀ NẴNG] ĐỀ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2025-2026 MÔN ĐỊA LÍ
  • [NGHỆ AN] ĐỀ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2025-2026 MÔN ĐỊA LÍ ĐỢT 2
  • [QUẢNG TRỊ] ĐỀ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2025-2026 MÔN ĐỊA LÍ
  • [ĐỀ 02] ĐỀ THI THỬ TN THPT NĂM 2025 – 2026 MÔN ĐỊA LÍ

ĐĂNG KÝ NHẬN TÀI LIỆU MỖI NGÀY

Nhập địa chỉ email của bạn để nhận tài liệu Địa lí thường xuyên


    Team thầy Tùng, chiến đến cùng! 

    Thông tin liên hệ

    • Điện thoại: 034 987 5146
    • Địa chỉ: Số 8 hẻm 173/68/73 Hoàng Hoa Thám, P. Ngọc Hà, Quận Ba Đình, Hà Nội
    • Email: dialithaytung2013@gmail.com
    Thiết kế website bởi Duy Anh Web
    • ĐỀ THI
      • HỌC KÌ I
      • HỌC KÌ II
      • ĐỀ THI HSG
      • ĐỀ THI THEO CHUYÊN ĐỀ
      • THẦY TÙNG BIÊN SOẠN
      • ĐỀ THI TỐT NGHIỆP THPT
        • BỘ GD&ĐT
        • ĐỀ THI THỬ
    • LÍ THUYẾT
      • LỚP 12
    • KHÓA HỌC
    • SÁCH
    • TÀI LIỆU
      • ĐỊA LÍ QUANH TA
      • TÀI LIỆU NÂNG CAO
      • VIDEO
    • HỌC SINH TIÊU BIỂU
    • TIN TỨC
    Zalo
    Phone
    0349875146

    Login

    Lost your password?

    Register

    A link to set a new password will be sent to your email address.

    Thông tin cá nhân của bạn sẽ được sử dụng để tăng cường trải nghiệm sử dụng website, để quản lý truy cập vào tài khoản của bạn, và cho các mục đích cụ thể khác được mô tả trong privacy policy của chúng tôi.