Trong chiến lược phát triển kinh tế biển của Việt Nam, ngành thủy sản đóng vai trò trụ cột. Nhiều năm gần đây, ngành đã chứng kiến sự “đổi ngôi” ngoạn mục: nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh hơn đánh bắt thủy sản. Theo Niên giám thống kê Việt Nam, năm 2024, sản lượng thủy sản nuôi trồng là 5,81 triệu tấn, chiếm 60,1% cơ cấu sản lượng thủy sản cả nước, lớn hơn so với sản lượng thủy sản khai thác (3,86 triệu tấn).
Tại sao lại như vậy? Hôm nay Địa lí thầy Tùng mời các em cùng tìm hiểu.
Khai thác – Sự suy giảm nguồn lợi thủy sản tự nhiên
Nước ta sở hữu nguồn lợi thủy sản phong phú, với trữ lượng lớn tuy nhiên đang bị suy giảm nghiêm trọng trong thời gian qua. Theo kết quả điều tra, đánh giá của Viện Nghiên cứu hải sản, tổng trữ lượng nguồn lợi hải sản ở biển Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020 đạt khoảng 3,95 triệu tấn, suy giảm đáng kể so với giai đoạn 2000-2005 (giảm 22,1%) và giai đoạn 2011-2015 (giảm 9,4%).
Một trong các nguyên nhân chính đến từ việc khai thác quá mức trong nhiều thập kỉ qua. Đặc biệt, nguồn lợi ven bờ khai thác quá mức cho phép. Tình trạng biến đổi khí hậu làm thay đổi hệ sinh thái ven biển khiến các bãi đẻ tự nhiên của nhiều loài cá bị thu hẹp. Từ đó làm sản lượng thuỷ sản khai thác có sự biến động.
Nuôi trồng – Tiềm năng phát triển
Với hơn 3260km đường bờ biển, hàng triệu ha diện tích mặt nước từ các cửa sông, đầm phá (như hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai), mạng lưới sông ngòi dày đặc,… nước ta sở hữu những điều kiện sinh thái thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản, bao gồm cả thủy sản nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Điều này tạo điều kiện cho việc nâng cao sản lượng thủy sản nuôi trồng.

Sự phát triển của khoa học công nghệ, hạ tầng kĩ thuật đã giúp năng suất nuôi trồng tăng vọt. Hoạt động nuôi trồng chuyển từ mô hình nuôi quảng canh sang nuôi thâm canh. Nước ta cũng đang đẩy mạnh nuôi các đối tượng đặc sản, có giá trị cao, nhu cầu thị trường lớn, (Địa lí thầy Tùng) từ đó làm giá trị sản xuất ngành nuôi trồng thủy sản gia tăng.
So sánh lợi thế của nuôi trồng thủy sản so với khai thác thủy sản
- Chủ động trong sản xuất: Đánh bắt phụ thuộc vào mùa vụ và thời tiết (biển động, bão lũ) và nguồn lợi thủy sản. Nuôi trồng giúp người sản xuất chủ động được sản lượng, đối tượng nuôi, chủ động thời điểm thu hoạch sản phẩm trong năm – khắc phục được một số trở ngại của thiên nhiên. (Địa lí thầy Tùng). Việc đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản nhằm đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các cơ sở chế biến, đảm bảo xuất khẩu.
- Kiểm soát chất lượng: Các tiêu chuẩn quốc tế yêu cầu khắt khe về thức ăn, nguồn nước và kháng sinh. Trong nuôi trồng, việc kiểm soát này khả thi hơn, giúp thủy sản Việt Nam vượt qua các rào cản kỹ thuật của các thị trường khó tính như Mỹ, EU, và Nhật Bản.
Như vậy, việc dịch chuyển trọng tâm từ khai thác sang nuôi trồng không chỉ là giải pháp thích ứng với sự suy giảm nguồn lợi tự nhiên mà còn là hướng đi tất yếu để hiện đại hóa ngành thủy sản Việt Nam. Sự thay đổi này giúp chúng ta vừa bảo vệ được hệ sinh thái biển bền vững, vừa khẳng định vị thế của một “cường quốc thủy sản” trên bản đồ xuất khẩu thế giới.
Bài viết từ Địa lí thầy Tùng

